Bà Nguyễn Việt Hằng - Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia nằm ở cửa ngõ giao thương của 3 châu lục: Á - Âu - Phi với diện tích 784.000 km², sở hữu hạ tầng logistics khổng lồ với eo biển Bosphorus, sân bay Istanbul (trung tâm trung chuyển lớn nhất khu vực), kết nối nhanh chóng đến MENA và CIS, dân số 86,1 triệu với hơn 90% người dân theo đạo Hồi, tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, bức tranh lạm phát, tỷ giá và chi phí tài chính - và tác động trực tiếp đến ngành thực phẩm, đồ uống Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2025-2026, tỷ giá mất giá kéo theo phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, điều này đã tác động rất lớn đến ngành hàng tiêu dùng thực phẩm và đồ uống (F&B), cụ thể, giá cả leo thang thay đổi thói quen chi tiêu, nhất là nhóm thu nhập trung-thấp, doanh nghiệp chuyển từ tăng giá trực tiếp sang giảm gramaj, phân khúc kinh tế-cao cấp, biên lợi nhuận toàn chuỗi (nhà sản xuất → bán lẻ) bị thu hẹp do cạnh tranh khuyến mãi...
Bà Hằng cũng cho biết, trong giai đoạn vừa qua, 5 chính sách mới đáng chú ý tác động đến ngành F&B năm 2026 tại Thổ Nhĩ Kỳ, kể từ 1/7/2026, máy hoàn ký quỹ tại 81 tỉnh; bao bì đồ uống thủy tinh, nhựa, kim loại phải có mã nhận diện, việc ghi nhãn dinh dưỡng trên menu cũng có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2026, theo đó, doanh nghiệp bắt buộc phải công bố calo, đạm, béo, carb trên thực đơn...
Thổ Nhĩ Kỳ cũng siết quy định nhãn giá và menu, doanh nghiệp bắt buộc ký hiệu ₺ rõ ràng, thực đơn giấy đối chiếu QR, giá đã gồm VAT, ngoài ra, khung pháp lý cho thực phẩm chức năng, nguyên liệu mới, hài hòa chuẩn EU cũng bắt đầu có hiệu lực từ ngày 20/5/2026. Những quy định mới này sẽ tạo ra các rào cản kỹ thuật mới, siết kiểm soát nhập khẩu thực phẩm, từ tháng 7/2026, Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng quy trình kiểm tra 10 bước (Thông cáo 2026/5, Luật 5996) với mọi lô hàng thực phẩm, thức ăn chăn nuôi gốc thực vật và vật liệu tiếp xúc thực phẩm - khai báo qua hệ thống điện tử GGBS, các đơn hàng không đạt có thể bị từ chối nhập khẩu, buộc tái xuất, yêu cầu xử lý/kiểm tra bổ sung hoặc phải tiêu hủy hàng hóa, về tác động ngắn hạn, điều này có thể làm chững tốc độ tăng trưởng nhập khẩu do chi phí & thời gian tuân thủ tăng, về tác động trung hạn: thanh lọc thị trường, ưu tiên nhà xuất khẩu hồ sơ chuẩn hóa - cơ hội cho doanh nghiệp Việt làm ăn bài bản.
Với xu hướng tiêu dùng mới đang dần dần hình thành nhằm thích ứng với những sự thay đổi của nền kinh tế trong nước và toàn cầu, người tiêu dùng Thổ Nhĩ Kỳ đang dịch chuyển sang logic "chi tiêu ít hơn nhưng thông minh hơn" — ưu tiên sản phẩm nội địa, tự nhiên và tiện lợi, từ trung thành thương hiệu sang săn khuyến mãi, theo dõi giá/hiệu năng & khuyến mãi liên tục, ưu tiên sản phẩm nội địa & thực phẩm tiện lợi, ý thức bền vững và minh bạch thông tin tăng cao, người tiêu dùng ưu tiên đối với những sản phẩm tự nhiên, không phụ gia, bao bì bền vững, chú trong hơn đối với các phản hồi số & ảnh hưởng mạng xã hội, nhu cầu thực phẩm chế biến sẵn tăng.
Hiện nay, ca cao, cà phê và hạt khô nằm trong nhóm những ngành tăng trưởng nhanh nhất, trong đó, 5 nhóm ngành tỷ đô chiếm hơn nửa tổng kim ngạch nhập khẩu thì cà phê, trà và gia vị nhập khẩu hơn 1.3 tỉ USD, 271 triệu USD hạt điều, bột ca cao chiếm hơn 296 triệu USD...Với bức tranh toàn cảnh này, Việt Nam xuất hơn 98 triệu USD kim ngạch xuất khẩu F&B sang Thổ Nhĩ Kỳ, ngành hạt chiếm 82 triệu USD, cà phê, trà và gia vị chiếm 11 triệu USD và thủy sản chiếm 3 triệu USD. Trong đó, hạt điều có nguy cơ bị soán ngôi từ Bờ biển Ngà, tuy nhiên, xuất khẩu hạt điều hiện nay đạt khá vì lý do tăng trưởng ổn định nhờ thói quen ăn vặt bền bỉ và xu hướng ăn uống lành mạnh của người Thổ Nhĩ Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ có xu hướng dịch chuyển chiến lược để tránh lạm phát và giảm chi phí, doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng nhập hạt điều thô, chưa bóc vỏ từ Bờ Biển Ngà để tự chế biến, rang, bóc vỏ trong nước - thay vì mua nhân hạt điều thành phẩm của Việt Nam.
Đối với cà phê, các doanh nghiệp Việt có thể chào bán Robusta & cà phê xanh Việt Nam như giải pháp thay thế Arabica Brazil đắt đỏ, ngoài ra, sản phẩm cà phê hòa tan 3in1 và trà thảo mộc organic của Việt Nam có tiềm năng tiếp cận giới trẻ, dân văn phòng nhờ sự đa dạng về hương vị và thiết kế bao bì hiện đại.
Mặc dù Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia có ngành nông nghiệp phát triển (đặc biệt về ngũ cốc và trái cây ôn đới), nhưng họ vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu các mặt hàng nông sản nhiệt đới và nguyên liệu thô để phục vụ ngành công nghiệp chế biến và tái xuất khẩu, đất nước này không thể tự cung tự cấp (Hạt tiêu, Hạt điều, Cà phê, Dừa), Việt Nam có lợi thế bổ trợ hoàn hảo với cơ cấu nông nghiệp của Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng ta không cạnh tranh trực tiếp mà cung cấp các mặt hàng họ thiếu, hiện Thổ Nhĩ Kỳ có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của chính phủ TNK (giảm phụ thuộc vào Nga, châu Âu) đang mở ra cánh cửa lớn cho hàng Việt, đồng thời, nhu cầu đang chuyển dịch sang cà phê đặc sản và gia vị hữu cơ có chứng nhận nguồn gốc rõ ràng.
Đối với ngành hồ tiêu, ngành công nghiệp chế biến thịt, gia vị và thực phẩm truyền thống của TNK tiêu thụ lượng lớn hồ tiêu đen và trắng. Sản phẩm của Việt Nam được đánh giá cao về chất lượng và giá cả cạnh tranh.
Hiện Việt Nam giữ 60,4% khối lượng nhưng chỉ 38,5% giá trị - chênh lệch giá nghiêm trọng so với hồ tiêu Brazil. Cần rà soát khoảng cách định giá này để tránh thất thoát doanh thu. Tuy nhiên, theo phân tích của Bà Hằng, Việt Nam vẫn còn cơ hội rất lớn cho sản phẩm Robusta và Arabica, vì nguồn cung từ Brazil làm giá của mặt hàng này đang tăng cao.
Đối với thị trường thủy sản, đây cũng tạo ra cơ hội lớn cho Việt Nam được tiếp cận mặc dù hiện nay, sản phẩm này chỉ mới được phục vụ trong các nhà hàng Châu Á chưa vào kênh tiêu thụ chính thống. Năm 2025, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu thủy sản đạt 2,3 tỷ USD và đặt mục tiêu đạt 3 tỷ USD vào năm 2028. Họ đang trở thành "công xưởng" chế biến thủy sản của khu vực. Để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu thủy sản 3 tỷ USD vào năm 2028, các nhà máy chế biến tại Thổ Nhĩ Kỳ đang khát nguồn nguyên liệu chất lượng cao.
Ngành công nghiệp thủy sản Thỗ Nhĩ Kỳ đang chuyển hướng từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, do đó, họ nhập khẩu lượng lớn thủy sản sơ chế từ các nước nhiệt đới để phục vụ các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu sang EU. Đối với cá ngừ (nguyên liệu và đóng hộp), lợi thế của Việt Nam chính là chất lượng thịt tốt, nguồn cung dồi dào, mức độ cạnh tranh trung bình (Cạnh tranh Thái Lan, Philippines).
Hiện nay, có 3 trụ cột chiến lược xúc tiến thương mại cho doanh nghiệp Việt, trong đó phải kể đến: chuyển dịch khỏi các chuỗi bán lẻ lớn (101-105 ngày công nợ), hướng tới nhà phân phối HORECA (52-67 ngày) hoặc đại lý nhỏ giao dịch tiền mặt, áp dụng mô hình giá linh hoạt theo biến động tiền tệ, hoặc gắn hợp đồng xuất khẩu với chỉ số giá nguyên liệu toàn cầu thay vì giá cố định, chuyển trọng tâm xuất khẩu từ thành phẩm mang thương hiệu sang nguyên liệu thô khối lượng lớn (cà phê xanh, hạt điều thô) phục vụ sản xuất "nhãn riêng" tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Từ đó, doanh nghiệp Việt Nam được khuyến nghị nên tăng hiện diện tại các hội chợ lớn tại Istanbul như Foodist Istanbul, Hội chợ F-Istanbul, World Food Istanbul để xây quan hệ B2B trực tiếp, chào hàng trực tiếp (gửi hàng mẫu) cho nhà máy đóng gói/chế biến thay vì chuỗi bán lẻ, tận dụng các chương trình xúc tiến thương mại của Bộ Công Thương, thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ...
Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần lưu ý các hình thức lừa đảo phổ biến hiện nay như việc giả danh tổ chức quốc tế / viện trợ chính phủ, Website & đối tác logistics giả mạo, dấu hiệu giả mạo là các website này chỉ có tiếng Anh, không có tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ có số di động (+90 5xx), không có số cố định (+90 212...), không có giấy phép rõ ràng (Ticaret ve Sanayi Odası) hoặc mới thành lập vài tháng, Hợp đồng với bên thứ ba giả mạo...Vì vậy, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ thị trường và đối tác, lựa chọn phân khúc sản phẩm, phương thức thanh toán an toàn và thẩm định đối tác kỹ càng.
Hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ đã ký kết FTA với gần 40 quốc gia, tạo lợi thế tái xuất khẩu cho các sản phẩm nông sản, thực phẩm chế biến nhập khẩu từ Việt Nam. Mặc dù vậy, quy trình kiểm dịch tại cảng của TNK mất nhiều thời gian và yêu cầu bộ chứng từ xuất xứ (C/O), chứng nhận sức khỏe (Health Certificate) hoàn hảo. Một sai sót nhỏ về nhãn mác cũng có thể khiến lô hàng bị lưu kho lưu bãi hoặc trả về. Thổ Nhĩ Kỳ đang hài hòa hóa khung pháp lý về an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn của Liên minh Châu Âu (EU).
iều này đồng nghĩa với việc các quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, phụ gia thực phẩm cực kỳ khắt khe.Tổng cục Thực phẩm và Kiểm soát Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu: Kể từ 01/01/2026, các sản phẩm thủy sản khai thác, thủy sản nuôi, sữa, gelatin, collagen... chỉ được phép thông quan nếu cơ sở sản xuất có tên trong "Hệ thống Cơ sở được phê duyệt của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ" (TROIS), doanh nghiệp Việt Nam phải thông qua Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển Thị trường (NAFIQPM) để nộp hồ sơ đăng ký sang thị trường này. Ngoài ra, chứng nhận Halal là giấy thông hành bắt buộc, Cơ quan Kiểm định Halal Thổ Nhĩ Kỳ (HAK) áp dụng các tiêu chuẩn OIC/SMIIC, sản phẩm nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến của Việt Nam bắt buộc phải có chứng nhận Halal từ các tổ chức được HAK công nhận (hoặc được đánh giá tương đương) để được phân phối vào các kênh siêu thị lớn, sản phẩm có logo Halal rõ ràng sẽ tăng từ 30-50% tỷ lệ lựa chọn của người tiêu dùng.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đối mặt với thuế suất nhập khẩu cao, phòng vệ thương mại, doanh nghiệp Việt cần theo dõi chặt chẽ cảnh báo từ Bộ Công Thương, ngoài thuế nhập khẩu cơ bản, một số mặt hàng tiêu dùng có thể phải chịu thêm Thuế Tiêu thụ Đặc biệt (ÖTV) và Thuế Giá trị Gia tăng (KDV)...
Theo Ông Đinh Công Hoàng, để có thể thâm nhập vào thị trường này, hiện có các kênh phân phối rộng khắp tại đất nước này, trong đó có các siêu thị giá rẻ như BIM, A101, Şok, các siêu thị này chiếm thị phần lớn nhất. Tập trung nhãn hàng riêng (Private Label).
Cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu hoặc gia công nhãn mác giá rẻ (nông sản, đồ hộp); các siêu thị tiêu chuẩn như Migros, CarrefourSA nhắm tới tầng lớp trung lưu. Nơi lý tưởng để xây dựng thương hiệu quốc gia. Phù hợp cho thủy sản cao cấp, thực phẩm chế biến organic, nước trái cây và Kênh HORECA là các nhà hàng, khách sạn, Resort, các kênh này đóng góp lớn nhờ ngành du lịch khổng lồ của thị trường này. Tiêu thụ lượng lớn tôm đông lạnh, phi lê cá, trái cây nhiệt đới, cà phê...
Doanh nghiệp Việt Nam thường không bán trực tiếp vào siêu thị Thổ Nhĩ Kỳ mà thông qua hệ thống các nhà nhập khẩu và phân phối lớn (Distributors/Importers), các nhà nhập khẩu này sở hữu kho bãi lạnh, am hiểu thủ tục hải quan phức tạp của Thổ Nhĩ Kỳ và có mối quan hệ sâu rộng với các chuỗi siêu thị, yêu cầu của các đối tác Thổ Nhĩ Kỳ là chính sách giá FOB/CIF tốt, thanh toán linh hoạt và đảm bảo nguồn cung ổn định...
Đứng trước các thách thức và cơ hội trên, doanh nghiệp Việt nam nên áp dụng công thức 3T: uy tín, thần tốc và phân tích, năm 2026 đánh dấu bước ngoặt khi Thổ Nhĩ Kỳ phục hồi kinh tế mạnh mẽ và khát khao đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm, nông thủy sản toàn cầu, Doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng chiếm lĩnh thị phần nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật (Halal, TROIS) và có chiến lược thâm nhập bài bản thông qua kênh phân phối nhập khẩu phù hợp, hãy xem Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ là một thị trường 86 triệu dân, mà là bàn đạp để tiến vào Liên minh Châu Âu và Trung Đông.