Thị trường hàng hóa ngày 19/5: Cao su, cà phê, đường cùng tăng giá trong khi dầu mỏ, thép, đồng, nhôm đi xuống

Thứ bảy - 19/05/2018 08:20

 

Thị trường hàng hóa ngày 19/5: Cao su, cà phê, đường cùng tăng giá trong khi dầu mỏ, thép, đồng, nhôm đi xuống

Giá hàng hóa biến động trái chiều. Dầu giảm nhưng vẫn có tuần tăng thứ 6 liên tiếp. Cao su bật tăng cao
trong khi các nông sản khác như lúa mì, đậu tương cũng được giá. Nhôm xuống mức thấp nhất
2 tuần còn đồng giảm lần đầu tiên trong 3 tuần.

Dầu thoái lui nhưng vẫn đạt tuần tăng thứ 6 liên tiếp
Giá dầu giảm, nhưng dầu thô Brent ghi nhận tuần tăng thứ 6 liên tiếp, được thúc đẩy bởi sản lượng dầu Venezuela giảm, nhu cầu toàn cầu tăng mạnh và các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran mờ nhạt.
Dầu thô Brent kỳ hạn giảm 79 cent, tương đương 1% xuống còn 78,51 USD/thùng vào cuối phiên hôm qua 18/5. Hợp đồng dầu tham chiếu toàn cầu phá vỡ ngưỡng 80 USD/thùng – lần đầu tiên – kể từ tháng 11/2014 và các nhà đầu tư dự đoán giá dầu Brent sẽ tăng hơn nữa do lo ngại nguồn cung, ít nhất trong ngắn hạn. Giá dầu Brent đã tăng khoảng 17,5% kể từ đầu năm và tăng khoảng 1,9% trong tuần này.
Giá dầu thô Tây Texas WTI kỳ hạn giảm 21 cent tương đương 0,29% xuống còn 71,28 USD/thùng và tăng khoảng 0,9% trong tuần này, tuần tăng thứ 3 liên tiếp.
Barclays cho biết, sản lượng dầu Venezuela có thể giảm xuống dưới 1 triệu thùng/ngày (bpd). Nước này sản xuất khoảng 1,4 triệu bpd trong tháng 4/2018. Saudi Arabia, nước sản xuất dầu hàng đầu OPEC cho biết sẽ đảm bảo chắc chắn thế giới được cung cấp đầy đủ dầu, cũng như nước tiêu thụ lớn - Ấn Độ - bày bỏ sự thất vọng khi giá dầu tăng.
Giá dầu nhận được sự hậu thuẫn từ việc cắt giảm nguồn cung dẫn đầu bởi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ, Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 và tái trừng phạt các biện pháp đối với thành viên OPEC.
Vàng hồi phục do đồng USD giảm
Giá vàng hồi phục do đồng USD giảm sau khi căng thẳng chính trị tại Italia dấy lên làn sóng bán tháo trong thị trường trái phiếu của nước này và các nhà đầu tư tìm tài sản trú ẩn an toàn như vàng. Giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.292,12 USD/ounce, trong phiên trước đó đạt 1.285,41 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 27/12.
Giá vàng kỳ hạn tháng 6 tại Mỹ tăng 1,9 USD tương đương 0,2% lên 1.291,3 USD/ounce.
Số liệu cho thấy rằng, thị trường lao động Mỹ thắt chặt và hoạt động nhà máy giữa Đại Tây Dương tăng, thúc đẩy kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang sẽ tăng lãi suất trong tháng tới. Giá vàng giao ngay vẫn được dự kiến sẽ đạt 1.302 USD/ounce, khi ổn định ở mức hỗ trợ 1.287 USD/ounce.
Trong khi đó, giá bạc giảm 0,4% và kết thúc tuần giảm hơn 1%. Giá bạch kim giảm 0,4% xuống 885,4 USD/ounce, trong phiên có lúc chạm 876,5 USD/ounce, mức thấp nhất 5 tháng. Giá bạch kim giảm 4% trong tuần, tuần giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 12. Giá palađi giảm 1,2% xuống 966,3 USD/ounce, trong phiên có lúc chạm 960,22 USD/ounce, mức thấp nhất 2 tuần và hướng tuần giảm gần 3%.
Nhôm thấp nhất 2 tuần, đồng giảm tuần đầu tiên trong 3 tuần
Giá nhôm giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần, sau thông tin cho rằng các biện pháp trừng phạt đối với doanh nhân Nga Oleg Deripaska sẽ không tìm thấy sự tái cử vào ban giám đốc của Rusal, giảm bớt lo ngại nguồn cung từ công ty này sẽ bị gián đoạn.
Giá nhôm đạt mức cao nhất 6 năm trong tháng trước đó sau khi Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Rusal, nhà sản xuất nhôm lớn thứ 2 thế giới. Và sau đó giá nhôm đã giảm hơn 1/2 mức tăng do hy vọng rằng nguồn cung ít bị ảnh hưởng. Giá nhôm kỳ hạn 3 tháng trên sàn London đóng cửa giảm 1% xuống còn 2.270 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 2.245 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 2/5.
Giá đồng giảm tuần đầu tiên trong 3 tuần, do sự không chắc chắn về triển vọng tăng trưởng toàn cầu và sức mạnh đồng USD trong tuần này đã gây áp lực giá. Trong 1 tuyên bố, công ty mẹ của Rusal EN+ cho biết, Deripaska đã từ chức khỏi Hội đồng quản trị và cam kết không ở lại như là giám đốc của Rusal. Giá đồng trên sàn London giảm 0,3% xuống còn 6.855 USD/tấn và giảm 0,9% so với tuần trước đó.
Giá nickel trên sàn London tăng 1,1% lên 14.750 USD/tấn, giá kẽm tăng 0,1% lên 3.099,5 USD/tấn, trong khi giá chì giảm 1,9% xuống còn 2.330 USD/tấn và giá thiếc tăng 0,6% lên 20.780 USD/tấn.
Thép thanh giảm trở lại, xuống thấp nhất 1 tuần
Giá thép kỳ hạn tại Trung Quốc giảm trở lại xuống mức thấp nhất 1 tuần, do nguồn cung tăng và lo ngại nhu cầu phục hồi theo mùa có thể sẽ sớm chấm dứt. Hoạt động xây dựng tại Trung Quốc tăng đẩy dự trữ thép của các thương nhân giảm kể từ tháng 3/2018 và khiến sản lượng thép thô trung bình ngày của các nhà máy thép trong tháng 4/2018 tăng lên mức cao nhất trong 4 năm.
Giá thép thanh kỳ hạn tháng 10 trên sàn Thượng Hải đóng cửa giảm 1,2% xuống còn 3.631 NDT (570 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 3.619 NDT/tấn, mức thấp nhất 1 tuần. Giá nguyên liệu sản xuất thép hướng theo xu hướng giảm giá thép thanh kỳ hạn. Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên giảm 0,7% xuống còn 478 NDT/tấn, giá than cốc giảm 0,8% xuống còn 2.088 NDT/tấn và than luyện cốc giảm 2,2% xuống còn 1.230 NDT/tấn. Giá quặng sắt giao sang cảng Tần Hoàng Đảo giảm 0,8% xuống còn 67,49 USD/tấn, Metal Bulletin cho biết.
Cao su tăng cao
Giá cao su kỳ hạn trên sàn TOCOM, hợp đồng tham chiếu đóng cửa tăng cao, theo xu hướng giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải tăng, trong bối cảnh kỳ vọng căng thẳng thương mại giữa Bắc Kinh và Washington sẽ giảm bớt sau vòng đàm phán thứ hai.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 10 trên sàn TOCOM kết thúc phiên tăng 4 JPY tương đương 0,0361 USD, lên 193,9 JPY/kg.
Tại Thượng Hải hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 tăng 305 NDT tương đương 47,89 USD lên 11.765 NDT/tấn. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 6 trên sàn SICOM tăng 2 Uscent lên 142,5 Uscent/kg.
Đường và cà phê đồng loạt tăng
Giá đường thô tăng do lo ngại thời tiết khô tại Brazil. Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 tăng 0,1 cent tương đương 0,9% lên 11,66 cent/lb. Hợp đồng đường giao ngay chịu áp lực bởi đồng real Brazil suy yếu so với đồng USD, giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 3/2016. Lo ngại thời tiết khô tại nước sản xuất đường hàng đầu – Brazil – cũng hỗ trợ giá. Trong khi giá đường ở mức thấp đã khiến các nhà máy phân bổ mía đường nhiều hơn cho sản xuất ethanol. Tuy nhiên, nguồn cung đường toàn cầu dư thừa chủ yếu nhờ sản lượng tại Thái Lan và Ấn Độ tăng mạnh mẽ, bù đắp cho sản lượng suy giảm tại Brazil. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 3,5 USD tương đương 1,1% lên 330,2 USD/tấn.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 7 tăng 0,1 cent tương đương 0,1% lên 1,18 USD/lb. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 7 tăng 12 USD tương đương 0,7% lên 1.762 USD/tấn.
Lúa mì và đậu tương tăng
Giá lúa mì kỳ hạn trên sàn Chicago tăng 4,1% do dự báo thời tiết khô ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Giá lúa mì đỏ cứng vụ đông kỳ hạn tháng 7 trên sàn Chicago tăng 20-3/4 cent lên 5,18-1/4 USD/bushel. Giá lúa mì tăng 4 phiên liên tiếp và thiết lập tuần tăng 3,9%, được hậu thuẫn bởi Iraq mua 100.000 tấn lúa mì cứng, bao gồm 50.000 tấn lúa mì Mỹ.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 7 trên sàn Chicago tăng 3-1/2 cent lên 9,98-1/2 USD/bushel. Giá đậu tương kỳ hạn giảm 0,5% trong tuần này, tuần giảm thứ 3 liên tiếp.
Giá một số mặt hàng chủ chốt lúc 7h sáng ngày 19/5

 

Thị trường hàng hóa ngày 19/5: Cao su, cà phê, đường cùng tăng giá trong khi dầu mỏ, thép, đồng, nhôm đi xuống - Ảnh 1.

Tác giả bài viết: Mai Thanh -TTKC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thị trường
Giá
Thay đổi
Giá cà phê 
Robusta
(ICE Futures EU)
1,669USD
+2USD
Arabica
(ICE Futures US)
105.05USD
-1.20USD
FOB HCM R2
1,581 USD
Trừ lùi -110USD
Giá Cà phê nội địa
Đắk Lắk
34.900-35.200VND
Lâm Đồng
34.300-35.200VND
Gia Lai
34.900-35.100VND
Đắk Nông
34.900-35.100VND
Nông sản tại tỉnh Đắk Lắk
Hồ tiêu
Đen
49.500VND/kg
Trắng
105.000VND/kg
Hạt điều chẻ thu hồi nhân
Dưới 30%
44.000VND/kg
Trên 30%
48.000VND/kg
Ca cao lên men
Cargill chưa cộng thưởng CL
43.500VND/kg
Armajaro
48.000VND/kg
Cao su mủ nước
Tại vườn 
24.5trđ/tấn
Tại nhà máy
25.0trđ/tấn
Tỷ Giá Ngoại Tệ
Code Buy Transfer Sell
AUD 16,655.45 16,755.99 16,938.92
CAD 17,598.67 17,758.50 17,952.37
EUR 26,236.24 26,315.19 26,549.33
GBP 29,291.05 29,497.53 29,759.98
HKD 2,927.70 2,948.34 2,992.47
JPY 205.15 207.22 211.59
SGD 16,710.25 16,828.05 17,011.76
THB 686.13 686.13 714.75
USD 23,270.00 23,270.00 23,350.00
Liên kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây